Diễn Viên Ngọc Lan Tiết Lộ “Tuyệt Chiêu” Giúp Khử Thâm, Làm Hồng N–h-ũ Hoa

Theo thời gian cùng với thiên chức làm mẹ, đôi n-h-ũ hoa trở nên sạm màu, kém hấp dẫn khiến không ít chị em rơi vào tâm lý mặc cảm, tự ti bởi sự săn chắc, hồng hào của đôi gò bồng đào luôn là yếu tố tinh thần quan trọng trong đời sống “chăn gối” vợ chồng.

Diễn viên Ngọc Lan tin dùng NuWhite N1

Thấu hiểu được nỗi lo thầm kín này, Mibiti Prudente – thương hiệu làm đẹp từ Hoa Kỳ đã cho ra đời kem làm hồng n-h-ũ hoa NuWhite N1 giúp khử thâm, làm hồng vòng một chỉ sau một tuàn sử dụng.

“Chỉ cần dùng chừng một tuần thôi là thấy ngay kết quả mà hổng cần phẫu thuật hay phun xăm gì ráo cả. Dì Chang ngại mấy vụ làm đẹp mà tốn thời gian lắm nên mê em Nuwhite N1 này, gọn nhẹ, dễ xài, an toàn, tác dụng nhanh” là những chia sẻ thú vị từ diễn viên Ngọc Lan thu hút sự quan tâm của đông đảo người hâm mộ.

Diễn viên Ngọc Lan viên mãn với kết quả từ NuWhite N1 mang lại

Là một trong những gương mặt gạo cội của màn ảnh Việt, nữ diễn viên xinh đẹp, tài năng Ngọc Lan luôn tạo sự cuốn hút cho người đối diện bởi sự tự tin toát lên từ thần thái rạng ngời của mình bởi cô luôn biết cách yêu, thương chăm sóc toàn diện cho bản thân.

Với hơn 8 năm có mặt tại thị trường Việt Nam, Mibiti Prudente NuWhite N1 nhanh chóng trở thành thương hiệu khử thâm, làm hồng n-h-ũ hoa được yêu thích nhất và nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ các celeb hàng đầu trong showbiz Việt.

Mibiti Prudente NuWhite N1

Chỉ cần thoa một lượng sản phẩm vừa đủ lên vùng da cần điều trị, Mibiti Prudente NuWhite N1 sẽ nhanh chóng làm giảm tế bào sừng hóa, cải thiện sắc tố da, giảm melamin, giúp nhũ hoa trở nên hồng hào, quyến rũ.

Bên cạnh đó, NuWhite N1 còn ngăn chặn nám, thâm sạm, bảo vệ tế bào da nhạy cảm trước tác động của gốc tự do, chống oxy hóa, ngăn chặn sự tích tụ của sắc tố đen, tăng cường lưu thông máu và tái tạo làn da tươi mới, sáng hồng mịn màng.

Mibiti Prudente NuWhite N1 sản phẩm được đông đảo celeb tin dùng

NuWhite N1 không chỉ mang lại hiệu quả nhanh chóng, tối ưu trên n-h-ũ hoa của phụ nữ sau sinh mà còn là giải pháp hàng đầu điều trị thâm sạm, xỉn màu ở nam giới.

Được chiết xuất từ các thành phần lành tính, có lợi cho da như: vitamin A, C, B5, E,…, đặc biệt NuWhite N1 còn được chiết xuất từ nguồn nguyên liệu thiên nhiên như: ô hội, cam thảo, cúc la mã giúp làm sáng da tự nhiên và giúp giảm kích ứng. Chiết xuất thục địa, tùng lam giúp chống oxy hóa, kháng viêm, ngăn chặn sự hình thành melamin trên da non.

Mibiti Prudente NuWhite N1sản phẩm được tin dùng hàng đầu trong khử thâm làm hồng n-h-ũ hoa

Không bị can thiệp bởi các liệu pháp xâm lấn, không cần trải qua phẫu thuật, với Mibiti Prudente NuWhite N1 khách hàng chỉ cần sử dụng sản phẩm tại nhà rất đơn giản mà hiệu quả lại nhanh chóng và tiết kiệm thời gian, chi phí. Vì thế, NuWhite N1 luôn chiếm lĩnh vị trí “độc tôn” trong lòng khách hàng.

Cùng Diệu Nhi Tự Tin Diện Bikini Với Sản Phẩm Khử Thâm Alpha White H6

25 Th8 2020 Tin tức

Là một cô nàng yêu thích những bộ váy hai dây gợi cảm, sexy nhưng vùng da dưới cánh tay thiếu chút thẩm mỹ thâm đen sần sùi mất sức sống do thói quen thường xuyên nhổ lông nách đã khiến bạn phải bỏ lỡ với chúng.

Vùng da dưới cánh tay tuy không là khu vực quan trọng nhưng nó sẽ mang lại cho bạn cảm giác tự tin hơn và với dòng sản phẩm khử thâm Alpha White H6 của Mibiti Prudente sẽ giúp cho bạn trở lại với vẻ đẹp quyến rũ, lôi cuốn đó.

Diệu Nhi cùng với dòng kem dưỡng Alpha White H6 của Mibiti Prudente

Vừa mới đây, trên trang cá nhân của Diệu Nhi đã bày tỏ sự hài lòng tuyệt đối về dòng kem dưỡng Alpha White H6 của Mibiti Prudente (Hoa Kỳ). Được biết, Alpha White H6 có các hoạt chất chống oxy hóa mạnh, ngăn chặn các gốc tự do, kích thích quá trình thúc đẩy tái tạo da, ức chế sự phát triển melanin,… nên vùng da nào bị thâm, sạm đều sẽ trở nên hồng hào, mịn màng sau khi dùng.

Diệu Nhi chia sẻ trên trang cá nhân

Vừa mới đây, trên trang cá nhân của Diệu Nhi đã bày tỏ sự hài lòng tuyệt đối về dòng kem dưỡng Alpha White H6 của Mibiti Prudente (Hoa Kỳ). Được biết, Alpha White H6 có các hoạt chất chống oxy hóa mạnh, ngăn chặn các gốc tự do, kích thích quá trình thúc đẩy tái tạo da, ức chế sự phát triển melanin,… nên vùng da nào bị thâm, sạm đều sẽ trở nên hồng hào, mịn màng sau khi dùng.

 

MIBITI PRUDENTE – SẢN PHẨM KHỬ THÂM LÀM HỒNG SỐ 1 HOA KỲ

6 Th9 2019 Giới thiệu

Mibiti Prudente là dòng sản phẩm cao cấp với các tính năng vượt trội, ứng dụng công nghệ thay da sinh học, công nghệ nano…nuôi dưỡng, bảo vệ da tối ưu để chống lại quá trình lão hóa, điều trị và phục hồi da tổn thương, đồng thời cung cấp các dưỡng chất cần thiết nhất để duy trì, bảo vệ, tái tạo làn da.

Quan điểm chủ đạo của Mibiti Prudente là nhận ra làn da lý tưởng trên phương diện khoa học, sinh lý và thẩm mỹ thông qua việc nghiên cứu không ngừng, phát triển sản phẩm với đam mê, hiểu biết và thực tế hóa các tiêu chí làm đẹp làn da bằng các mỹ phẩm chức năng cao dựa trên nền tảng các hoạt chất sinh học của khoa học da liễu chuyên sâu.
Chương trình điều trị thẩm mỹ với Công nghệ Thay da Sinh học (Hoa Kỳ) đề cập bên trên có tác dụng điều trị các vấn đề sau:
– Nám da, sạm da, tàn nhang (tác dụng sau 14 ngày).
– Nếp nhăn, chảy xệ, sẹo lõm, vết rạn nứt (tác dụng phục hồi tái tạo da, tăng sinh collagen).
– Mụn, se khít lỗ chân lông (tác dụng điều tiết nhờn, kháng khuẩn).
– Da nhạy cảm, da bỏng rát, dễ đỏ (tác dụng tăng sinh biểu bì, tăng cường sức khỏe làn da).
– Các loại da như da dầu, da khô, da kích ứng, da mất nước, da hỗn hợp, da lão hóa, v.v…
– Làm hồng khử thâm trẻ hóa cho vùng da nhạy cảm, hồng môi sau 10 ngày…
Đây là một liệu pháp tự nhiên. KHÔNG tác dụng phụ. KHÔNG tái lại, ÍT xâm lấn hơn, ÍT tốn kém hơn, nhưng HIỆU QUẢ cao.

Mibiti Prudente tự hào là đối tác chuyên nghiệp, tận tình và đã mang lại thành công cho rất nhiều cơ sở chăm sóc da, thẩm mỹ viện, salon, viện da liễu, v.v… Với tinh thần trách nhiệm cao, sự hỗ trợ hết lòng cho đối tác, cùng với một đội ngũ các nhà khoa học chuyên môn cao liên tục nghiên cứu không ngừng để cho ra đời các sản phẩm mới vượt trội và mang lại hiệu quả lâm sàng tối ưu, dòng hàng này sẽ là giải pháp thẩm mỹ tối tân và ưu việt cho các vấn đề của làn da.

Trương Ngọc Sơn chính thức trở thành Giám đốc Điều hành Mibiti Prudente Việt Nam

22 Th8 2019 Tin tức

Là đại diện tiêu biểu của thế hệ doanh nhân trẻ tài năng và đầy nhiệt huyết, anh Trương Ngọc Sơn chính thức trở thành Giám đốc Điều hành Mibiti Prudente trước sự ủng hộ nhiệt tình của giới chuyên môn và đông đảo nhà phân phối sản phẩm tại thi trường Việt Nam.

Anh Trương Ngọc Sơn – CEO Mibiti Prudente Việt Nam

Xuất phát điểm là sinh viên khoa Dược, sở hữu kiến thức nền vững chắc và tình yêu mãnh liệt với công việc mang cái đẹp đến mọi người, chàng Dược sĩ 9x đã khởi nguồn đam mê với vị trí nhân viên kinh doanh mỹ phẩm.

Còn nhớ 6 năm về trước, khắp các cửa hàng kinh doanh mỹ phẩm, spa, thẩm mỹ viện tại Cần Thơ và các tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long ai ai cũng đều ấn tượng với chàng trai có thân hình nhỏ nhắn nhưng ý chí phi thường, không ngại gian khó tiếp cận khách hàng với mong muốn mang đến những sản phẩm làm đẹp hiệu quả, nhanh chóng và an toàn nhất.

Anh Trương Ngọc Sơn

Với khả năng hoạt ngôn thiên bẩm cùng sự tận tình, chu đáo và cái tâm của người làm nghề, anh Sơn đã xây dựng niềm tin vững chắc đối với rất nhiều đối tác, trong đó có cả những khách hàng kỹ tính nhất. Sự thành công của anh còn góp phần truyền cảm hứng tích cực cho rất nhiều bạn trẻ có đam mê và khao khát thành công nhưng với xuất phát điểm không được sự hậu thuẫn từ gia đình và mọi người xung quanh.

Anh Trương Ngọc Sơn

Chính những nỗ lực không mệt mỏi, tinh thần thép mỗi khi đối diện với khó khăn và sự chân thành trong các mối quan hệ, anh đã nhận được sự tin tưởng tuyệt đối từ mọi người xung quanh khi đảm nhận vai trò CEO của nhãn hàng Mibiti Prudente.

 

Các sản phẩm của Mibiti Prudente

Mibiti Prudente là thương hiệu làm đẹp xuất xứ từ Mỹ, nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng thẩm mỹ nội khoa và đông đảo phái đẹp. Con số 1.500 khách hàng là chủ spa, thẩm mỹ viện, bệnh viện thẩm mỹ trong cả nước đã sử dụng các dòng sản phẩm của Mibiti Prudente tiếp tục tăng lên nhanh chóng tại thị trường Việt Nam. Mibiti Prudente không chỉ là bí quyết làm đẹp được các chị em rỉ tai nhau mà ngay cả đấng mày râu cũng rất hài lòng về những công dụng “thần kỳ” của sản phẩm mang lại trong điều trị thâm sạm, giúp trẻ hóa ngực và vùng “nhạy cảm”.

Là giám đốc kinh doanh của một thẩm mỹ viện thuộc top đầu tại Đồng bằng sông Cửu Long, bao lần chứng kiến những trăn trở, tự ti, mặc cảm của các chị em, hơn ai hết khi tìm ra giải pháp làm đẹp hiệu quả từ các sản phẩm của Mibiti Prudente, anh luôn ý thức rằng niềm vui phải song hành cùng thử thách, tất cả sẽ tạo động lực thôi thúc anh khẳng định năng lực mỗi ngày.

Anh Trương Ngọc Sơn cùng nhân viên

Khi nhắc đến anh mọi người không chỉ thán phục bởi tài năng mà còn cúi đầu trước nhân cách sống, dù thành công vang dội khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng ở anh luôn có sự khiêm nhường chuẩn mực. Anh luôn tâm niệm rằng, để có được như ngày hôm nay là do phần lớn những đóng góp của đội ngũ bác sĩ, dược sĩ, kinh doanh, IT, Truyền Thông, Telesale…

Anh Trương Ngọc Sơn – CEO Mibiti Prudente Việt Nam

Với cương vị là giám đốc “kép”, vừa gánh trên vai trọng trách giám đốc thẩm mỹ viện, vừa tiếp nhận vị trí giám đốc nhãn hàng Mibiti Prudente Việt Nam, với anh đây vừa là cơ hội cũng lại là thách thức, nhưng với sự sôi nổi của tuổi trẻ, niềm đam mê bất tận của một trái tim yêu nghề và khát khao mang lại sự tự tin cho tất cả khách hàng, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng những thành công nối tiếp thành công sẽ đến với anh trong thời gian tới.
https://www.facebook.com/mibitiprudente/
https://www.facebook.com/truongngocson01
http://www.mibitiprudente.vn/

0901.229.696

MỘT VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THAY DA SINH HỌC

28 Th8 2018 Tin tức

Thay da sinh học là một liệu pháp sử dụng các tác nhân hóa học với mục đích loại đi lớp tế bào da già cỗi, thô sần, tổn thương do ánh nắng mặt trời,.v.v… trên bề mặt đồng thời kích thích quá trình sản sinh collagen giúp mang lại sự mượt mà và săn chắc cho làn da. Mức độ ứng dụng của thay da sinh học đã dần giảm đi do laser đã được chấp thuận cho việc điều trị các vấn đề nếp nhăn và sắc tố trên da, tuy nhiên ở một mức độ nào đó, thay da sinh học vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ tái tạo bề mặt đối với một số trường hợp.

Các tác nhân thay da sinh học

Các dung dịch thay da hầu hết đều chứa các hoạt chất gồm acid alpha hydroxy (AHA) (acid glycolic là một AHA), acid beta hydroxy (BHA) (acid salicylic là một BHA), acid trichloroacetic (TCA) hoặc phenol. Mỗi hoạt chất trên đều được phân loại theo nồng độ cũng như độ sâu xâm lấn trên da từ cạn trên bề mặt (thay da nhẹ) cho đến trung bình và sâu. Các kết quả điều trị có sự liên quan chặt chẽ với độ sâu của thay da. Các quy trình thay da cạn trên bề mặt (thường sử dụng nồng độ thấp AHA hoặc BHA thường mang lại các kết quả không đáng kể so với khi thực hiện ở độ sâu trung bình hoặc sâu (thường sử dụng TCA hoặc phenol). Nhìn chung, có thể kỳ vọng các kết quả tích cực đối với liệu pháp này về các vấn đề như nếp và rãnh nhăn, không đồng đều tông màu da, mụn đầu đen, suy giảm collagen và tăng tiết dầu quá mức tạm thời.

 

 

Thay da sinh học có thể giúp cải thiện những gì?

Với bất kỳ một quy trình thay da nào, việc biết rõ mức độ hiệu quả có thể đạt được là rất quan trọng để có mức kỳ vọng thực tế. Các tác nhân thay da dù là xâm lấn ở mức độ nào cũng không thể loại bỏ được sự hiện diện của các mạch máu giãn nở bất thường trên da, không thể làm se khít hiệu quả các lỗ chân lông, không ảnh hưởng nhiều đến quá trình hình thành sẹo lồi cũng như không cho các hiệu ứng liên quan đến việc nâng cơ. Chúng có thể giúp làm mềm mượt bề mặt da hơn, xóa mờ các vết sắc tố, nám mảng, cải thiện tình trạng không đồng đều màu da gây ra bởi ánh nắng mặt trời và có thể giúp bề mặt da trông trẻ trung và tươi mới hơn. Ngoài ra, việc thay da đều đặn (mỗi 6-8 tuần) sẽ mang lại tác dụng kích thích sản sinh collagen trông thấy, giúp làm mờ hiệu quả các nếp nhăn trên da.

Có những nguy cơ nhất định khi sử dụng liệu pháp thay da sinh học, tuy nhiên điều này phụ thuộc rất nhiều vào loại hoạt chất cũng như độ sâu của quy trình thay da. Các quy trình thay da cạn trên bề mặt có ít nguy cơ hơn tuy nhiên hiệu quả mang lại không đáng kể. Các tình trạng đỏ da, sưng phù và tăng độ nhạy cảm có thể xảy ra với loại thay da này.

Khi mong muốn kết quả cao với các quy trình thay da vừa và sâu, các biến chứng cũng sẽ gia tăng tương ứng bao gồm hình thành sẹo, nhiễm trùng, biến đổi màu da tạm thời hoặc vĩnh viễn (đặc biệt xảy ra với thay da sâu) và mụn lạnh đau đối với những người có tiền sử loét lạnh. Vì lý do này, nhiều chuyên gia da liễu đang dần hạn chế sử dụng liệu pháp thay da đối với các trường hợp có thể đạt được hiệu quả tích cực cùng độ an toàn cao hơn với các thiết bị laser hoặc ánh sáng.

Quy trình thay da sinh học được thực hiện bằng cách thoa các lớp dung dịch nhất định lên da để ly giải các lớp tế bào da trên

cùng, có thể ở một số vùng hoặc cả khuôn mặt. Thông thường, tác dụng cộng gộp của một vài quy trình thay da cạn đến trung bình có thể đạt được các kết quả tương tự như một quy trình sâu với ít nguy cơ biến chứng hơn cũng như thời gian hồi phục ngắn hơn. Cần có sự tư vấn của chuyên gia để lựa chọn được quy trình thích hợp nhất.

Thay da với AHA

Các quy trình thay da với acid alpha hydroxy (AHA) thường sử dụng hoạt chất là acid glycolic và độ xâm lấn từ nông đến trung bình tùy thuộc vào nồng độ hoạt chất sử dụng. Thông thường nồng độ acid glycolic dao động từ 30-70 %. Loại thay da này mang lại hiệu quả tốt trong việc cải thiện kết cấu da, hỗ trợ tái tạo collagen và elastin, cải thiện nhẹ các tình trạng sẹo mụn và không đồng đều tông màu da. Các quy trình lặp lại cần được thực hiện để đạt được và duy trì kết quả mong muốn.

Lưu ý: thay da với AHA không phải là quy trình y tế và do đó không có các quy định cụ thể của FDA. Các bác sỹ thường thực hiện ở nồng độ cao hơn (>30%) trong khi các chuyên gia thẩm mỹ thường lựa chọn nồng độ thấp hơn một chút (từ 20-30%) và đương nhiên các quy trình sử dụng nồng độ này cần được thực hiện lặp lại để đạt được các kết quả tối ưu.

Sau bất kỳ quy trình thay da nào, chuyên viên thực hiện nên thoa lên da một lớp chống nắng phổ rộng cho bệnh nhân (tốt nhất nên dùng các sản phẩm dựa trên titan dioxide hoặc kẽm oxide). Làn da sẽ trở nên nhạy cảm hơn với ánh nắng trong một vài ngày sau điều trị, do đó việc sử dụng chống nắng để bảo vệ da là vô cùng cần thiết.

Thay da với BHA

Các quy trình thay da với acid beta hydroxy (BHA) thường không phổ biến bằng các quy trình sử dụng AHA, tuy nhiên chúng có thể mang lại các kết quả đáng kể đối với một số loại da. Dung dịch acid salicylic có thể hoạt động tương tự như acid glycolic nhưng với độ kích ứng thấp hơn. Nó là một hợp chất có cấu trúc gần giống với aspirin (acid acetylsalicylic) và vẫn giữ được đặc tính kháng viêm tương tự như hoạt chất này. Quy trình thay da sâu với BHA có thể được ứng dụng cho nhiều loại da do tình trạng kích ứng và viêm sẽ được giảm đến mức tối thiểu nhờ vào tính chất dược lý của các hoạt chất BHA. Acid salicylic có tính chất thân dầu, do đó nó là một thành phần khá hữu hiệu cho các làn da dầu nhiều mụn đầu đen cũng như dễ sinh mụn. Nồng độ phổ biến nhất được sử dụng hiện nay của thành phần này là từ 20-30%.

Liệu pháp thay da với BHA cũng thích hợp hơn với các làn da nhạy cảm, bao gồm cả tình trạng da đỏ bừng do giãn mạch (rosacea). Tuy nhiên cần lưu ý rằng một vài bệnh nhân với tình trạng rosacea có thể không dung nạp với acid salicylic. Do vậy, phản ứng test da trước khi thực hiện quy trình là rất cần thiết đối với các trường hợp này.

MỘT SỐ HOẠT CHẤT DÙNG NGOÀI TRONG ĐIỀU TRỊ NÁM (Phần 2)

28 Th8 2018 Tin tức

Trong phần trước, bài viết đã đề cập đến 2 hoạt chất điều trị nám, trong đó có hydroquinon là thành phần có hoạt tính khá mạnh được sử dụng khá phổ biến trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, nám da là một vấn đề phức tạp và không đáp ứng hoàn toàn với bất kỳ một hoạt chất nào, đôi khi cần phải có sự thay thế hoặc kết hợp thêm các thành phần hoạt tính khác.

Kojic acid

Kojic acid (5-hydroxy-2-hydroxymethyl-4-pyrone) là một sản phẩm tự nhiên từ nấm có tính thân nước có nguồn gốc từ một số loài Acetobacter, Aspergillus và Penicillium. Nó hoạt động bằng cách ức chế sự sản sinh các tyrosinase tự do và đồng thời cũng là một chất chống oxy hóa mạnh. Nhìn chung acid kojic cho hiệu quả điều trị tương đương với các hoạt chất khác nhưng có thể gây kích ứng nhiều hơn. Acid kojic (KA) được sử dụng ở các nồng độ khác nhau từ 1-4%. Trong một nghiên cứu mù đôi, KA 2% kết hợp với HQ 2% đã được chứng minh cho hiệu quả vượt trội so với acid glycolic (GA) 10% và HQ 2%. Một nghiên cứu mù đôi khác thì so sánh hiệu lực của 2 phối hợp, GA 5% với HQ 4% và  GA 5% với KA 4% trong ba tháng. Cả hai hỗn hợp đều cho thấy hiệu quả như nhau với tỷ lệ bệnh nhân có sự giảm sắc tố chiếm 52%. KA có thể có hiệu quả nếu bệnh nhân không phù hợp với các liệu pháp ưu tiên sử dụng cho việc điều trị nám trươc đó. Nó có thể gây viêm da tiếp xúc và ban đỏ trong một số trường hợp.

Các retinoid

Các retinoid chẳng hạn như tretinoin lần đầu tiên được sử dụng là để kết hợp với HQ như một tác nhân giúp làm tăng sự thâm nhập của hoạt chất này, nhưng sau đó đã được công nhận là có tác dụng riêng của nó trên sự tổng hợp sắc tố da melanin. Các retinoid tác động đến nhiều bước trong con đường tăng sinh sắc tố. Tretinoin thúc đẩy nhanh chóng sự loại bỏ các sắc tố da thông qua việc kích thích các quá trình sản sinh, đổi mới tế bào da, làm giảm thời gian tiếp xúc giữa tế bào sừng và các hắc sắc tố. Acid retinoic (RA) ngăn chặn sự tăng sắc tố gây ra bới tia UVB bằng cách làm giảm hoạt động của men tyrosinase. Các acid tác động lên tyrosinase và các protein liên quan đến men này ở cấp độ phân tử. So với các hợp chất phenolic như HQ, RA mất nhiều thời gian hơn để mang lại tác dụng, hiệu quả lâm sàng thấy rõ sau 24 tuần điều trị.

Glycolic acid

Acid glycolic là một alpha-hydroxy acid thường được kết hợp với các tác nhân khác ở nồng độ 5-10% đối với tác dụng làm trắng. Cơ chế tác động của nó có thể là do sự tái tạo biểu bì cũng như kích thích bong tróc các tế bào da già cỗi trên bề mặt, dẫn đến phân tán sắc tố nhanh chóng trên các vùng da điều trị. Nó cũng trực tiếp làm giảm sự hình thành melanin trong các tế bào melanocyte bằng cách ức chế men tyrosinase.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát đã chứng minh rằng một công thức có chứa 10% acid glycolic và 4% HQ có hiệu quả lâm sàng tốt trong việc điều trị nám cho một nhóm bệnh nhân gốc Tây Ban Nha. Kích ứng da là một tác dụng phụ phổ biến, tuy nhiên nó có thể được giải quyết bằng việc tạm thời ngừng dùng sản phẩm đồng thời tăng cường sử dụng các sản phẩm dưỡng ẩm cho da.

Arbutin

Arbutin (dẫn xuất beta-D-glucopyranoside của hydroquinone) là một sản phẩm tự nhiên từ thực vật đã được sử dụng thành công trong điều trị các tình trạng rối loạn sắc tố, hoạt động bằng cách ức chế men tyrosinase do đó làm giảm sự hình thành sắc tố melanin. Các liên kết glycoside trong arbutin được thủy phân trong cơ thể dẫn đến sự phóng thích có kiểm soát của hydroquinone, các phân tử hydroquinone thủy phân này cho khả năng tiêu diệt gốc tự do và ức chế tyrosinase mạnh hơn so với arbutin.

Hoạt động của arbutin thì phụ thuộc vào liều và ít tác dụng phụ hơn so với hydroquinone. Deoxyarbutin là một dẫn chất của arbutin phát triển trong thời gian gần đây được tổng hợp bằng cách loại bỏ các nhóm hydroxyl từ các phân tử arbutin. Điều này tạo nên tác dụng làm trắng bằng cách ức chế trực tiếp men tyrosinase. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát tốt vẫn chưa đầy đủ, các nghiên cứu thực nghiệm in vitro và in vivo ban đầu đã chứng minh rằng thành phần này có thể là một hoạt chất điều trị an toàn và hiệu quả cho các tình trạng rối loạn sắc tố da melanin.

MỘT SỐ HOẠT CHẤT DÙNG NGOÀI TRONG ĐIỀU TRỊ NÁM (Phần 1)

28 Th8 2018 Tin tức

Nám da luôn là một vấn đề không hề dễ dàng đối với các chuyên gia thẩm mỹ dù là có kinh nghiệm nhiều năm trong điều trị, bởi nó không giống nhau trên mọi bệnh nhân mà tương đối khác biệt tùy thuộc vào nhiều yếu tố cả về nội sinh lẫn ngoại sinh. Không có một phương pháp điều trị chung nào luôn mang lại hiệu quả cho mọi trường hợp. Hầu hết các trường hợp được điều trị bằng các sản phẩm dùng ngoài, hoạt chất có thể được dùng đơn độc hoặc phối hợp với nhau. Các phương pháp điều trị khác có thể kể đến là thay da hóa học và trị liệu bằng ánh sáng với các dạng chùm laser khác nhau hay các nguồn ánh sáng xung cường độ cao.

Tất cả các bệnh nhân có tình trạng nám da nên được tư vấn về tiến trình diễn biến tự nhiên của bệnh và sự cần thiết phải tuân thủ một kế hoạch điều trị lâu dài. Việc ngừng uống một số loại thuốc cũng như tránh dùng mỹ phẩm có mùi thơm được khuyến cáo. Ngoài ra, cần hiểu rõ rằng nám sẽ tái phát khi bệnh nhân tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và các nguồn tia cực tím khác. Các biện pháp Photoprotective như tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời và thường xuyên sử dụng kem chống nắng phổ rộng luôn được khuyến cáo mặc dù các nghiên cứu lâm sàng về vai trò của chúng vẫn chưa đầy đủ. Điều trị với các tác nhân ức chế sản sinh sắc tố melanin phải được duy trì trong nhiều tháng trước khi kết quả lâm sàng trở nên đáng kể. Các thành phần hoạt chất dùng tại chỗ tỏ ra hiệu quả hơn rất nhiều trong các loại nám biểu bì.

Hydroquinon

Hydroquinone (HQ), còn được gọi là dihydroxybenzen, là một hợp chất hydroxyphenolic có cấu trúc tương tự như tiền thân của melanin. Nó ức chế sự chuyển đổi của DOPA thành melanin bằng cách ức chế enzyme tyrosinase. HQ không chỉ tác động đến sự hình thành, melanin hóa và suy thoái của các melanosome mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc màng của các tế bào melanocyte (tế bào sắc tố) và cuối cùng gây hoại tử toàn bộ các melanocyte. HQ là một chất có thể bị oxy hóa khi đựng trong các ống hoặc chai lọ làm biến màu các chế phẩm từ màu trắng sang màu nâu. Sản phẩm đã trải qua sự thay đổi
màu sắc này sẽ không còn hiệu quả và cần được loại bỏ.

HQ là hoạt chất làm trắng được sử dụng phổ biến nhất trên toàn thế giới và nó vẫn là tiêu chuẩn vàng trong điều trị nám, đặc biệt là các loại nám biểu bì. HQ thường được sử dụng trong điều trị nám ở các nồng độ khác nhau từ 2-5% với tần suất một lần mỗi ngày. Các kết quả của việc điều trị bằng HQ trở nên rõ ràng sau 5-7 tuần và việc điều trị nên được tiếp tục trong ít nhất từ ba tháng đến một năm. HQ cũng được thiết kế công thức kết hợp với các thành phần khác như các hoạt chất chống nắng, corticoid, retinoid, acid glycolic để mang lại kết quả điều trị tốt hơn. Các tác dụng phụ của HQ có liên quan đến liều lượng và thời gian điều trị, trong đó kích ứng da thường gặp nhất.

Azelaic acid

Azelaic acid là một acid dicarboxylic tự nhiên chứa 9 nguyên tử carbon, không phenolic, bão hòa có khả năng ức chế cạnh tranh tyrosinase. Acid azelaic ban đầu được phát triển như là một tác nhân điều trị mụn nhưng vì ảnh hưởng trên tyrosinase, nó cũng đã được sử dụng để điều trị các tình trạng rối loạn sắc tố da như nám. Cơ chế hoạt động của nó bao gồm ức chế sự hoạt động của các enzym ty lạp thể cũng như ngăn chặn tổng hợp DNA, từ đó gây độc trực tiếp lên các tế bào melanocyte. Acid azelaic dùng ngoài không gây mất sắc tố trên các làn da có lượng sắc tố bình thường, đặc điểm này có thể là do tác dụng chọn lọc của nó trên các tế bào melanocyte bất thường. Nó có thể được sử dụng cho các trường hợp tăng sắc tố sau viêm trong điều trị mụn. Các gốc tự do được cho là góp phần vào việc làm tăng sắc tố và acid azelaic có khả năng làm giảm sự sản xuất các gốc tự do.

Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên đã chỉ ra rằng nồng độ 20% của acid azelaic tương đương với 4% hydroquinone trong khả năng điều trị nám, nhưng không có tác dụng phụ của nó. Một nghiên cứu có kiểm soát khác cho thấy axit azelaic mạnh hơn hydroquinone 2%. Sự kết hợp của acid azelaic với tretinoin 0,05% hoặc acid glycolic 15-20% có thể làm sáng da rõ rệt và nhanh hơn. Các tác dụng phụ của acid azelaic bao gồm ngứa, ban đỏ nhẹ và bỏng.

MỘT SỐ HOẠT CHẤT DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ MỤN

28 Th8 2018 Tin tức

Mụn là một tình trạng bệnh lý về da phổ biến không phải chỉ do một nguyên nhân đơn thuần mà hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau.  Các cá nhân có loại da dù là giống hay khác nhau, dù là da khô, da dầu hay da hỗn hợp đều không hề biểu hiện tình trạng mụn giống nhau. Vì vậy phương pháp điều trị thích hợp phải dựa trên từng tình trạng cụ thể và không có quy tắc lựa chọn nào là chính xác hoàn toàn. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm điều trị mụn chứa nhiều thành phần hoạt tính khác nhau, trong đó một số hoạt chất đã trở nên rất phổ biến và được tin dùng. Nắm được đặc điểm của các thành phần này sẽ giúp cho việc lựa chọn sản phẩm trở nên hợp lý và mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn rất nhiều.

Acid salicylic

Acid salicylic là một trong những thành phần phổ biến nhất được tìm thấy trong các sản phẩm điều trị mụn. Nó giúp xóa tan mụn thông qua việc loại bỏ các tế bào da chết tận sâu vào bên trong các lỗ chân lông. Việc tẩy tế bào da chết sẽ ngăn chặn sự tắt nghẽn lỗ chân lông, cho phép bã nhờn đi lên bề mặt da từ đó không bít tắt sinh mụn. Các chế phẩm chứa acid salicylic thường gây châm chích nhẹ trên da trong một vài ngày đầu sử dụng và hàm lượng cao acid salicylic có thể gây đỏ và khô da. Thành phần acid salicylic không chỉ có trong các sản phẩm điều trị mụn mà còn là thành phần hoạt tính trong các chế phẩm tẩy tế bào chết, dung dịch cân bằng da cũng như các sản phẩm hỗ trợ điều trị mụn khác. Khi sử dụng các sản phẩm chứa salicylic, nên dùng kết hợp thêm các sản phẩm cấp nước để dưỡng ẩm cho làn da.

Benzoyl hydroxide

Đây cũng là một thành phần thường gặp trong các chế phẩm trị mụn. Nó là một chất kháng khuẩn giúp tiêu diệt vi khuẩn trong các nang lông, ngăn chặn quá trình tiến triển của mụn. Nồng độ benzoyl hydroxide trong các sản phẩm có thể dao động từ 2.5% cho đến 10%, sự khác nhau về hàm lượng có ý nghĩa quan trọng, nó được lựa chọn cho từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của mụn cũng như độ nhạy cảm của làn da bệnh nhân. Tương tự như acid salicylic, benzoyl hydroxide có thể gây sưng viêm nhẹ cũng như đỏ da.

Lưu huỳnh

Lưu huỳnh thường không được sử dụng đơn độc trong các sản phẩm điều trị mụn mà được dùng như là một thành phần bổ trợ. Nó có khả năng loại bỏ các tế bào da chết và dầu nhờn dư thừa trên bề mặt da. Tác dụng này có thể giúp ngăn ngừa mụn nhưng bên cạnh đó lưu huỳnh cũng gây ra một số tác dụng phụ bất lợi, nổi bật là tình trạng đỏ da. Mụn có thể thuyên giảm trong một vài ngày đầu nhưng da có thể trở nên bị kích ứng nhiều hơn nếu là da nhạy cảm. Nên chuyển sang liều thấp hơn nếu bắt đầu xuất hiện các tác dụng phụ.

Adapalene

Adapalene là một thành phần hoạt chất thuộc nhóm retinoid tổng hợp. Các retinoid có bản chất hóa học tương tự như vitamin A và thường được sử dụng trong các chế phẩm dùng ngoài điều trị mụn. Adapalene giúp loại đi các tế bào da chết đồng thời kích thích sự tăng trưởng các tế bào da mới, bên cạnh đó cũng hỗ trợ làm thông thoáng lỗ chân lông và giảm viêm. Khi sử dụng các sản phẩm điều trị mụn chứa adapalene, tình trạng mụn có thể tiến triển xấu hơn trong một vài ngày đầu nhưng sau đó sẽ được cải thiện tốt. Các tác dụng phụ có thể xảy ra bao gồm kích ứng da, đau châm chích, nóng rát và da nhạy cảm hơn với tia UV.

Acid glycolic

Acid glycolic là một dạng alpha hydroxy acid tự nhiên có nguồn gốc từ các loại đường trong một số loài thực vật nhất định và sữa. Loại acid này có tác dụng làm lỏng lẻo liên kết giữa các tế bào sừng từ đó thúc đẩy việc loại đi các tế bào da chết đồng thời kích thích sự sản sinh tế bào da mới. Acid glycolic là cấu trúc phổ biến nhất trong nhóm này, tình trạng mụn có thể được kiểm soát với chế độ sử dụng đều đặn tuy nhiên bất kỳ sản phẩm nào cũng có thể gây các tác dụng phụ nếu sử dụng không đúng cách, vì vậy cần đưa ra chế độ hợp lý cho từng trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó, acid glycolic còn có khả năng hồi phục lại cấu trúc của làn da, tình trạng sẹo mụn cũng như tổn thương da cũng được cải thiện từ đó mang lại sự mịn màng và tươi trẻ cho làn da.

Các thành phần hoạt tính trong hầu hết các sản phẩm điều trị mụn đều rất quan trọng bởi chúng là các tác nhân chính giúp loại bỏ nguyên nhân gây mụn, bao gồm các hoạt chất như acid salicylic, benzoyl hydroxide, lưu huỳnh và cũng có thể kể đến các thành phần như adapalene và acid glycolic. Mụn luôn là một vấn đề không hề dễ dàng và làm giảm đi đáng kể sự tự tin của bản thân. Tuy nhiên điều quan trọng là phải nhìn nhận đúng để lựa chọn một sản phẩm thích hợp nhất cho loại da cũng như mức độ nghiêm trọng của mụn, khi đó các kết quả cải thiện sẽ không hề gây thất vọng.

LĂN KIM – LIỆU PHÁP TĂNG CƯỜNG THẨM THẨU XUYÊN BIỂU BÌ GIÚP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ

28 Th8 2018 Tin tức

Cấu trúc làn da người bao gồm 3 lớp chính là biểu bì, trung bì và hạ bì, trong đó biểu bì là lớp ngoài cùng của da đóng vai trò hàng rào bảo vệ da trước các tác nhân bất lợi từ môi trường cũng như ngăn ngừa sự mất nước giúp duy trì trạng thái sinh lý bình thường của da. Dù vậy, trung bì mới là lớp cấu trúc đóng vai trò quyết định đối với sức khỏe của làn da và do vậy nó là mục tiêu tác động của hầu hết các loại mỹ phẩm. Tuy nhiên, tỷ lệ vượt qua được lớp biểu bì để đến được lớp trung bì của hoạt chất với cách thức thoa ngoài da đơn thuần thường rất thấp. Để đáp ứng yêu cầu đó, lăn kim đã ra đời và phát triển trở thành liệu pháp tăng cường thẩm thấu xuyên biểu bì được sử dụng nhiều năm trên thế giới với hiệu quả đã được nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh.

Lợi ích

Khi được thực hiện trên da, lăn kim tạo vô số đường dẫn giúp cho mỹ phẩm thấm sâu vào da hiệu quả gấp nhiều lần so với khi thoa bình thường, từ đó phát huy tối đa tác dụng của các thành phần hoạt chất. Bên cạnh đó, nó còn tạo các “vết thương giả” làm kích thích các phản ứng viêm và quá trình chữa lành của làn da, từ đó kích thích tổng hợp collagen và elastin cũng như tăng cường lưu thông máu đến vùng điều trị, giúp mang lại tác dụng trẻ hóa, tái tạo da, se khít lỗ chân lông, làm đầy sẹo một cách tự nhiên và hữu hiệu.

Thiết bị

Có nhiều loại thiết bị vi kim khác nhau với tên gọi khác nhau. Đầu tiên là dạng thủ công được gọi là Dermaroller (kim lăn thủ công). Các dạng còn lại được lắp đặt động cơ là Dermapen và Dermastamp. Các thiết bị vi kim này có cơ sở khoa học hợp lý, chúng được chứng minh có khả năng nhất định trong việc giúp làm giảm các tình trạng sẹo, đưa các thành phần hoạt chất thẩm thấu tốt hơn vào da cũng như kích thích quá trình tái tạo tự nhiên của làn da.

  • Dermaroller: giống con lăn sơn nhỏ, gồm một hình trụ lăn đính ít nhất khoảng 200 đầu kim nhỏ và một tay nắm giúp cho việc di chuyển trụ lăn xung quanh mặt. Khi di chuyển, các đầu kim sẽ tạo vô số các lỗ nhỏ trên da, tạo điều kiện cho sự thẩm thấu tốt hơn của các hoạt chất cũng như kích thích quá trình tái tạo của làn da.

– Dermapen: hình dạng trông giống hệt một chiếc bút với một đầu tròn đính nhiều đầu kim nhỏ. Sự di chuyển đều đặn ra vào da theo hướng thẳng đứng của các vi kim này được điều khiển bởi một motor giúp tạo được vô số các vết thương nhỏ đồng đều trên da.

– Dermastamp có cấu tạo tương tự như dermapen nhưng bề mặt đầu chứa kim lớn hơn với nhiều kim hơn. Thiết bị này có thể ở dạng thủ công hoặc được lắp động cơ và chế độ hoạt động của nó chính xác như tên gọi (đóng stamp). Thay vì lăn thủ công để tạo đường dẫn hoặc được điều khiển bởi motor, các đầu kim sẽ được đóng thẳng trực tiếp lên da, tương tự như máy xăm nhưng sự xâm lấn được thực hiện bởi rất nhiều đầu kim.

Chỉ định

Một số chỉ định của liệu pháp lăn kim:

  • Sẹo lõm
  • Rạn nứt
  • Da lão hóa, nếp nhăn mịn
  • Lỗ chân lông to
  • Tăng sắc tố da

Tùy thuộc vào chỉ định khác nhau mà độ sâu tác động của kim sẽ khác nhau, chẳng hạn đối với sẹo lõm là từ 1.0 – 1.5 mm, rạn nứt trong khoảng 1.5 – 2.0 mm trong khi với mục đích trẻ hóa da và tăng cường thẩm thấu mỹ phẩm thì chỉ cần dưới 1.0 mm (đối với độ sâu 0.25 mm thì có thể thực hiện kết hợp thoa mỹ phẩm 2-3 lần / tuần tại nhà mà không cần đến cơ sở điều trị). Các thành phần hoạt chất, đặc biệt là chiết xuất phôi thai thực vật khi được kết hợp với liệu pháp lăn kim sẽ thẩm thấu sâu tạo tác dụng cộng gộp giúp thúc đẩy quá trình tái tạo của làn da một cách mạnh mẽ, tạo hiệu quả trẻ hóa vượt trội.

Thực hiện lăn kim mỗi ngày có tốt hay không?

Cần phải biết rằng việc liên tục tác động lên các vết thương trên da sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực. Đây cũng chính là mối lo ngại lớn nhất đối với các liệu pháp cần thực hiện lặp lại để đạt được hiệu quả tốt nhưng lại phải gây tổn thương da.

Trong quá trình làm lành da và hình thành mô sẹo, có một sự thay đổi trong tỷ lệ giữa collagen tuýp I và tuýp III). Có ít nhất 16 loại collagen trong cơ thể, tuy nhiên trong đó phổ biến nhất là loại I và loại III.

Khi da bị tổn thương, lượng collagen tuýp I tăng lên trong khi tuýp III giảm xuống. Khi 2 loại này cân bằng, làn da sẽ khỏe mạnh hơn, trông trẻ trung hơn và ngược lại khi sự cân bằng này mất đi vì các nguyên nhân tổn thương hay lão hóa, đặc biệt là trường hợp tổn thương lặp lại thường xuyên (lăn kim mỗi ngày) sẽ khiến cho lượng collagen tuýp I trở nên vượt trội, khi đó làn da sẽ trông thô cứng và không được khỏe mạnh. Về cơ bản, tình trạng này là do làn da phải ở chế độ sửa chữa liên tục do thường xuyên tổn thương, việc này hoàn toàn không tốt.

Sự cân bằng giữa collagen tuýp I và tuýp III là chìa khóa mang lại một làn da trẻ trung, khỏe mạnh và nó chắc chắn sẽ bị phá vỡ nếu quy trình lăn kim được thực hiện mỗi ngày. Do vậy, chỉ nên áp dụng 2-3 lần tuần hoặc theo hướng dẫn của chuyên viên để làn da kịp thời phục hồi sự cân bằng collagen trước khi sẵn sàng “tiếp nhận” một tổn thương mới.

CƠ CHẾ TRONG THAY DA SINH HỌC

28 Th8 2018 Tin tức

Trước khi bước vào thay da sinh học, chúng ta nên có kiến thức về giải phẫu da và việc thương tổn tự chữa lành. Da hoạt động như một hàng rào bảo vệ cơ thể giúp ngăn chặn sự tiếp xúc của nội mô với chấn thương, tia UV, nhiệt độ cao, độc tố và vi khuẩn. Các chức năng quan trọng khác bao gồm: cảm giác, miễn dịch, điều nhiệt và kiểm soát sự mất nước.

Da gồm hai lớp phụ thuộc lẫn nhau, lớp biểu bì và trung bì nằm trên lớp mỡ dưới da. Lớp biểu bì không chứa mạch máu và phụ thuộc hoàn toàn vào lớp trung bì bên dưới để cung cấp dinh dưỡng và loại bỏ chất thải. Điều này xảy ra do sự khếch tán qua vùng mô liên kết lớp biểu bì và trung bì. Chức năng chính của lớp trung bì là duy trì và hỗ trợ cho biểu bì.

Các phần phụ của biểu bì là những cấu trúc biểu mô trong da có khả năng phân chia. Những cấu trúc này đóng vai trò rất quan trọng, chúng có khả năng tái tạo khi lớp biểu bì bị loại bỏ hoặc phá hủy.

Các phần phụ biểu bì bao gồm: tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi và nang lông. Tuyến bã nhờn có mật độ cao nhất trên mặt và da đầu với 900 tuyến/cm2. Các phần phụ biểu bì nằm sâu trong lớp trung bì. Trên mặt, những phần phụ này có thể nằm trong lớp mô mềm dưới da. Độ sâu của những cấu trúc này và mật độ của chúng trên khuôn mặt giúp làm lành hư tổn ở những vùng da sâu nhất.

Thay da sinh học là quá trình áp dụng chất hóa học lên da để phá hủy các lớp da bị hư tổn. Nó gây ra sự phá hủy có kiểm soát một phần hoặc toàn bộ lớp biểu bì, có hoặc không liên quan đến lớp trung bì, dẫn đến tẩy da chết và loại bỏ bề mặt da hư tổn, tiếp đó là tái tạo mô biểu bì và trung bì mới. Các lớp biểu bì được tái tạo từ lớp da nằm ở phần trung bì còn lại. Quá trình này bắt đầu trong vòng 24 giờ sau khi da bị tổn thương và thường hoàn thành trong 5-10 ngày. Lớp biểu bì mới có tổ chức tốt hơn với sự biến mất của dày sừng và hắc tố bào. Tái tạo da là một quá trình chậm hơn và thường hoàn thành trong vòng vài tháng. Lớp trung bì tái sinh ít xảy ra thoái hóa mô đàn hồi và cải thiện cấu trúc rõ rệt với các sợi collagen và elastin xếp xen kẽ nhau. Kết quả tổng thể là làn da mềm mại, trẻ trung hơn, giảm nếp nhăn và sạm da đáng kể.

Các tác nhân thay da khác nhau được lựa chọn dựa trên mức độ trẻ hóa và khả năng rủi ro. Sự phá hủy hạn chế ở lớp biểu bì sẽ làm lành thương tổn nhanh chóng và không để lại sẹo, mặc dù một số thay đổi sắc tố có thể xảy ra nếu tế bào melanin bị tổn thương. Việc gây thương tổn bề mặt có nhiều bất lợi nhưng rất an toàn. Các vết thương sâu hơn có thể kéo dài tới lớp nhú da và đôi khi tới lớp lưới của trung bì. Tuy nhiên, sự xâm nhập sâu hơn sẽ tiêu diệt một phần các tế bào biểu bì, làm cho thương tổn lâu lành và nguy cơ sẹo cao hơn. Sự xâm nhập vào lớp lưới trung bì gây nguy cơ sẹo rất cao.

Các hóa chất yếu hơn (ví dụ: alpha hydroxy acid) thay đổi độ pH để tác động lên bề mặt da. Khi sử dụng với chất dưỡng ẩm, acid hoạt động một cách đơn giản trong làm sưng và bong tróc tế bào, dẫn đến tăng kích thước khung matrix và giảm các đường nhăn. Các phương pháp điều trị tiếp theo giúp loại bỏ da chết và mang lại làn da mềm mại.

Các hóa chất mạnh hơn như phenol (được dùng với các chất phụ gia như dầu khổ sâm và glycerin) và acid trichloroacetic (TCA) làm hoại tử da ở mức độ sâu hơn.

Các yếu tố khác có thể làm ảnh hưởng đến độ sâu trong thay da bao gồm:

– Sự hiện diện của dầu nhờn và bụi bẩn trên da.

– Hàm lượng nước của da.

– Nhiệt độ của phòng, da và dung dịch.

– Độ ẩm không khí.

– Khoảng thời gian dung dịch tiếp xúc với da.

– Độ dày lớp biểu bì và trung bì.

– Sự hiện diện của tình trạng cường sừng hóa trên da.

Sau khi thay da, bệnh nhân nên tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ để đạt được hiệu quả điều trị như mong muốn và tránh các biến chứng có thể xảy ra.

CÁC HOẠT CHẤT THƯỜNG DÙNG TRONG THAY DA SINH HỌC

28 Th8 2018 Tin tức

Thay da sinh học là một phương pháp sử dụng các hoạt chất hóa học để phá hủy lớp da hư hỏng bên ngoài và đẩy nhanh quá trình sửa chữa mô da. Bằng cách này, nhiều vấn đề về da như lão hóa, nếp nhăn, các vết sẹo, loạn dưỡng da,…được cải thiện rõ rệt. Dưới đây là các hoạt chất thường được sử dụng trong thay da sinh học:

Acid glycolic

Acid glycolic là một alpha hydroxy acid, tan trong cồn, có nguồn gốc từ trái cây và đường lactoza. Acid glycolic hoạt động làm mỏng lớp sừng, thúc đẩy quá trình bong tróc biểu bì và phân bố melanin trong lớp nền. Nó tăng acid hyaluronic ở da và collagen biểu hiện gen bằng cách tăng bài tiết IL-6. Thay da với acid glycolic được chống chỉ định trong viêm da tiếp xúc, phụ nữ mang thai và những bệnh nhân quá mẫn với glycolat. Về tác dụng phụ, chẳng hạn như tăng sắc tố tạm thời hoặc kích ứng, thường không đáng kể. Một số nghiên cứu cho thấy mức độ tổn thương da với acid glycolic tăng theo liều và theo thời gian tiếp xúc. Acid ở nồng độ cao hơn (70%) tạo ra nhiều tổn thương mô hơn acid ở nồng độ thấp (50%). Sự gia tăng tính thấm qua màng tế bào được quan sát khi pH giảm, điều này có thể giải thích được hiệu quả của acid glycolic trong điều trị các vấn đề về da.

Dung dịch Jessner

Đây là một công thức được tạo bởi bác sĩ Max Jessner, gồm sự kết hợp của acid salicylic, recorcinol và acid lactic trong 95% cồn là một chất thay da bề mặt tuyệt vời. Resorcinol có cấu trúc hóa học

tương tự phenol, nó phá vỡ liên kết hydro của keratin và tăng cường sự thâm nhập của các chất khác. Acid lactic là một alpha hydroxy acid gây ra sự tách rời các corneocyte và tiếp theo là sự bong tróc các tế bào sừng. Giống như các chất thay da khác, thay da với Jessner được dung nạp tốt. Chống chỉ định chung bao gồm: quá trình viêm đang tiến triển, viêm da do tiếp xúc hoặc nhiễm trùng tại khu vực cần điều trị, liệu pháp isotretinoin trong vòng 6 tháng, trì hoãn hoặc bất thường trong làm lành vết thương. Viêm da tiếp xúc dị ứng và phản ứng dị ứng toàn thân với resorcinol rất hiếm và cần được cân nhắc là chống chỉ định tuyệt đối.

Acid pyruvic

Acid pyruvic là một acid alpha ketoic và một tác nhân thay da hiệu quả. Nó có tính chất tiêu sừng, kháng khuẩn và giảm tiết bã nhờn cũng như đặc tính kích thích sản xuất collagen và hình thành sợi elastin. Việc sử dụng acid pyruvic 40-70% đã được đề xuất để điều trị sẹo mụn trung bình. Tác dụng phụ bao gồm việc bong tróc, đóng vỏ cứng ở các khu vực da mỏng hơn, da rất căng và cảm giác nóng bỏng trong quá trình điều trị. Acid pyruvic có vị đắng và kích ứng niêm mạc đường hô hấp trên, nên khuyến khích đảm bảo thông gió trong suốt quá trình sử dụng.

Acid salicylic

Acid salicylic là một beta hydroxy acid, loại bỏ các lipid nội bào có liên kết cộng hóa trị với lớp vỏ bao xung quanh tế bào biểu mô. Nồng độ hiệu quả trong sẹo mụn là 30% trong nhiều lần, khoảng 3-5 lần mỗi 3-4 tuần. Tác dụng phụ của việc thay da với acid salicylic là nhẹ và tạm thời. Chúng bao gồm đỏ da và khô da. Tăng sắc tố sau viêm hoặc sẹo rất hiếm và vì lí do này nó được sử dụng để điều trị da sẫm màu. Thở dốc, ù tai, mất thính giác, chóng mặt, đau bụng và các triệu chứng lo lắng liên quan đến thần kinh trung ương được coi là ngộ độc salicylic. Điều này đã được quan sát với acid salicylic 20% được áp dụng cho 50% bề mặt cơ thể.

Acid trichloroacetic

Việc sử dụng acid trichloroacetic (TCA) như một tác nhân thay da đầu tiên được mô tả bởi P.G. Unna, một bác sĩ da liễu người Đức, năm 1882. TCA áp dụng lên da gây ra sự biến đổi protein, gọi là quá trình đông tụ keratin. Với mục đích thay da hóa học, nó được trộn với 100ml nước cất để tạo ra nồng độ mong muốn. Mức độ thâm nhập và tổn thương mô bằng dung dịch TCA phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tỷ lệ phần trăm TCA được sử dụng, vị trí giải phẫu và khâu chuẩn bị da. Lựa chọn dung dịch TCA nồng độ thích hợp rất quan trọng khi thực hiện thay da. TCA với nồng độ 10-20% thay da bề mặt rất nhẹ và không có sự xâm nhập vào lớp hạt sâu hơn; nồng độ 25-35% thay da bề mặt nhẹ với sự khuếch tán bao phủ toàn bộ bề dày lớp biểu bì; 40-50% có thể gây thương tổn cho lớp trung bì nhú; và cuối cùng, nồng độ trên 50% gây thương tổn kéo dài đến lớp trung bì sâu. Thật không may là việc sử dụng TCA trên 35% có thể tạo ra những kết quả không thể đoán trước được như sẹo. Do đó, thay da hóa học ở độ sâu trung bình nên được kết hợp với TCA 35%. Cần tránh sử dụng TCA ở nồng độ lớn hơn 35%. Khi thực hiện đúng cách, thay da bằng TCA có thể là một trong những giải pháp tốt nhất để điều trị sẹo mụn, nhưng không được chỉ định với làn da tối màu vì có nguy cơ tăng sắc tố.

Search

+