Thông báo chính thức của Mibiti Prudente về nhận biết HÀNG GIẢ

Kính gửi quý đại lý, quý khách hàng của Mibiti Prudente,

Thời gian qua, trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm Mibiti Prudente với mẫu mã và chất lượng không đồng đều, được bán với giá rẻ đến mức phi lý và tặng kèm quá nhiều sản phẩm. Tất cả đều được bán dưới sự “lấp liếm” rằng là mẫu mã mới. Nay, Mibiti Prudente Việt Nam chính thức thông báo đến tất cả quý đại lý, quý khách hàng rằng sản phẩm Mibiti Prudente HOÀN TOÀN KHÔNG THAY ĐỔI MẪU MÃ MỚI, nếu có thay đổi mẫu mã, chúng tôi sẽ gửi thông báo chính thức đến quý đại lý và khách hàng, cũng như sẽ đăng tải thông báo trên website chính thức của nhãn hàng (mibitiprudente.vn) này. Hiện tại, chúng tôi đã bổ sung tem chống hàng giả đối với các sản phẩm Mibiti Prudente chính hãng. Cách thức nhận biết mẫu mã của sản phẩm chính hãng, cũng như cách nhận biết tem chống hàng giả được trình bày trong hình dưới đây.

Cách thức nhận biết mẫu mã chính hãng và tem chống hàng giả

Bên cạnh việc nhái mẫu mã tương tự, phiếu công bố mỹ phẩm do Bộ Y tế cấp cho sản phẩm Mibiti Prudente cũng bị làm giả hết sức tinh vi. Dưới đây là 1 số dấu hiệu để nhận biết PHIẾU CÔNG BỐ GIẢ

➡️Mộc giáp lai không sát mép giấy mà lại cách mép giấy khoảng 2-3mm, chứng tỏ mộc giáp lai đó được in bằng máy in màu, chứ không phải con dấu thật của Bộ Y Tế, không đóng trực tiếp lên văn bản.
➡️Phiếu công bố thực chất là 1 sấp hồ sơ gồm nhiều trang, với rất nhiều thông tin về nhà sản xuất, nhà phân phối, tiêu chuẩn kỹ thuật và thành phần chi tiết. Phiếu công bố GIẢ chỉ có 1 trang duy nhất, được làm giả bằng máy in màu để phục vụ mục đích bán hàng giả.

Cách nhận biết phiếu công bố giả

Cách thức nhận biết phiếu công bố giảNhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, quý đại lý và quý khách hàng lưu ý kiểm tra têm chống hàng giả và mẫu mã sản phẩm. Hình dưới đây minh họa cho cách nhận biết mẫu hàng giả (tới thời điểm hiện tại).

Cách nhận biết mẫu mã của hàng GIẢ

Cách nhận biết phiếu công bố GIẢ.

Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 08 năm 2018

Mibiti Prudente Việt Nam

Lưu ý khi sử dụng kem chống nắng có chứa kẽm oxit

ZnO kích thước nano có kích thước đường kính phân tử bằng 1 phần tỷ mét . 10000 phân tử kích thước nano có kích thước 1 sợi tóc. Để tránh ảnh hưởng bất lợi của kem chống nắng hóa học và cải thiện tính thẩm mỹ của kem chống nắng vật lý khi thoa lên da, các nhà khoa học đã tạo ra ZnO kích thước nano. Với kích thước này, ZnO không tạo thành những mảng trắng “khó ưa” so với kích thước phân tử thông thường. Trong quá trình bào chế, tùy theo phương pháp mà phân tử ZnO sẽ khác nhau về kích thước và hình dạng. Các phương pháp bào chế bao gồm: lắng đọng hơi (vapor deposition), kết tủa trong dung dịch thân nước (precipitation in water solution), thủy nhiệt (hydrothermal), phương pháp sol-gel, …. Nhưng phổ biến và tiết kiệm nhất là phương pháp kết tủa dung dịch thân nước. Phương pháp tiến hành như sau:

Các thành phần hóa học nên tránh khi dùng mỹ phẩm

 

Khi mua mỹ phẩm bạn nên tránh mua các sản phẩm có các thành phần sau đây:

DEA, TEA

Mục đích/ Sử dụng: chất tạo bọt.

Tránh dùng vì: Chất làm da nhạy cảm, có thể hình thành các hợp chất gây ung thư khi kết hợp với một số thành phần trong mỹ phẩm.

Các sản phẩm có chứa: đồ trang điểm, tẩy rửa cá nhân, dầu gội, sản phẩm chăm sóc da.

Kí hiệu trên nhãn sản phẩm: DEA, Diethanolamine, TEA, Triethanolamine.

Phthalates

Mục đích/ Sử dụng: thường được sử dụng như chất mang hương liệu tổng hợp.

Tránh dùng vì: có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe sinh sản và sự phát triển của thai nhi, được WHO khuyến cáo là chất có thể gây ung thư.

Các sản phẩm có chứa: xịt tóc, son môi, nước hoa và sơn móng.

Kí hiệu trên nhãn sản phẩm: Benzylbutyl phthalate (BzBP), Dinbutyl phthalate hoặc Dibutyl phthalate (DBP), Diethyl phthalate (DEP), đôi khi là Fragrance.

Formaldehyde

Mục đích/ Sử dụng: tạp chất tạo ra từ một số chất bảo quản hóa học.

2.Các thành phần có tạp chất gây độc hoặc nghi ngờ gây độc

Acrylates Copolymer

Ceteareth20

Cocamide Mea

 

EDTA

Paraffin

Peg8

Petrolatum

Polybutene

Nitrosamines are the potential byproducts of reactions between these ingredients and other ingredients. Nitrosamines are potent carcinogens.

12.Các thành phần nói chung được cho là hại da

Sodium Lauryl Sulfate.

Can be made solely from natural sources, but is a very aggressive detergent.

 

Kem chống nắng

Kem chống nắng có thể là dạng lotion, dạng xịt, dạng gel hoặc kem bôi chứa các chất có thể hấp thụ hoặc phản xạ tia UV và do đó giúp bảo vệ da khỏi bị cháy nắng. Những sản phẩm làm trắng da cũng thường chứa chất chống nắng để bảo vệ da vì da trắng thì nhạy cảm với ánh nắng mặt trời hơn là da sẫm màu. Một số loại kem chống nắng còn chứa bột tan giúp tạo màu da. Tuy nhiên, bột tan này không có tác dụng bảo vệ da trước tia UV.

Tùy thuộc vào cơ chế bải vệ da, kem chống nắng có thể phân thành các nhóm chống nắng vật lý (cơ chế là phản xạ ánh sáng) hoặc chống nắng hóa học (cơ chế hấp thụ tia UV).

Các tổ chức y tế như Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyên bạn nên sử dụng kem chống nắng vì nó hỗ trợ trong việc phòng chống các bệnh ung thư biểu mô. Nhiều loại kem chống nắng không ngăn chặn được tia UVA, chúng có thể giúp da không bị cháy nắng nhưng da bạn vẫn có nguy cơ bị ung thư. Việc sử dụng kem chống nắng phổ rộng (cả UVA và UVB) có thể giúp giải quyết vấn đề này. Sử dụng kem chống nắng thường xuyên cũng có thể làm chậm hoặc ngăn ngừa sự xuất hiện của các nếp nhăn và chảy xệ da.

Cách đo lường khả năng chống nắng

Chỉ số SPF là một yếu tố để đo lường khả năng chống nắng của kem. Ví dụ, “SPF 15” có nghĩa là chỉ 1/15 bức xạ đến được da. Người tiêu dùng có thể xác định hiệu quả của kem chống nắng bằng cách nhân chỉ số SPF với thời gian tối thiểu họ ở ngoài nắng và bị cháy nắng. Ví dụ: một người ở ngài nắng 10 phút sẽ bị cháy nắng, nếu anh ta thoa kem chống nắng SPF 15 thì anh ta phơi nắng 150 phút mới bị cháy nắng. Một điều quan trọng nữa là kem chống nắng với SPF cao không có nghĩa là sẽ hiệu quả hơn so với kem chống nắng có SPF thấp hơn, mà nó phụ thuộc vào ngưỡng cháy nắng của từng người và bạn phải bôi lại thường xuyên để duy trì hiệu quả đó.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/14/Sunburn_blisters.jpg/267px-Sunburn_blisters.jpg

Chỉ số SPF không phải là một thước đo hoàn hảo cho những tổn thương của da vì những tổn thương không thể nhìn thấy được và các dấu hiệu lão hóa gây ra bởi tia UVA (UVA có bước sóng 315-400 hoặc 320-400nm), những tổn thương này không gây đau hoặc đỏ. Hầu hết các kem chống nắng chặn được rất ít tia UVA liên quan đến chỉ số SPF, các sản phẩm chống nắng phổ rộng thì lại được thiết kế để ngăn chặn cả tia UVA và UVB. Theo một nghiên cứu vào năm 2004, tia UVA cũng có thể gây ra những tổn thương trên AND, tăng nguy cơ ung thư da. Titan dioxit được xem là một chất chống nắng tốt nhưng lại không ngăn chặn được tất cả các bước sóng của tia UVA, trong khi đó những nghiên cứu gần đây đề nghị Kẽm oxit hiệu quả hơn Titan dioxit tại các bước sóng 340-380nm.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/0/0d/UV_and_Vis_Sunscreen.jpg/800px-UV_and_Vis_Sunscreen.jpg

Để bảo vệ người tiêu dùng trước sự nhầm lẫn qua các mức độ thật và thời gian được bảo vệ mà các sản phẩm chống nắng cung cấp, các nhãn trên sản phẩm phải được giới hạn con số SPF. Những nước EU cho phép nhãn ghi đến SPF 50. Ủy ban an toàn tiêu dùng của Úc cũng chấp thuận con số 50 vào năm 2012. Trong những dự thảo của FDA năm 2007 và 2011 đều đề nghị con số tối đa trên nhãn là SPF 50 để hạn chế những khiếu nại không thực tế. Những nước khác cũng đề xuất hạn chế những con số trên 50 do thiếu các bằng chứng về việc sử dụng các sản phẩm có SPF cao sẽ có ý nghĩa bảo vệ cao hơn.

Chỉ số SPF được đo bằng cách thoa kem chống nắng lên da tình nguyện viên và đo thời gian nó bị cháy nắng khi cho tiếp xúc với một nguồn ánh sáng mặt trời nhân tạo. Tại Mỹ, một phép thử trong phòng thí nghiệm được yêu cầu bởi FDA như sau: người ta sử dụng một máy đo quang phổ đặc biệt để đo lường sự xuyên thấu của ánh sáng mặt trời vào da qua kem chống nắng cùng với sự giảm dần tác dụng của kem chống nắng. Trong trường hợp này, khả năng cho ánh sáng xuyên thấu của kem chống nắng phải được đo ở tất cả các bước sóng của ánh nắng mặt trời cả UVB và UVA (290-400nm). Kèm theo là một bảng ghi lại khả năng gây cháy nắng của dãy bước sóng và cường độ chuẩn của ánh sáng mặt trời. Như vậy, phép đo trong phòng thí nghiệm tốt hơn phép đo trên cơ thể người.

Chỉ sống đo lường các yếu tố bảo vệ trước tia UV (UPF) cũng là một chỉ số tương tư được phát triển để đo lường mức độ chống nắng của các sợi vải. Theo những kiểm tra gần đây của các cục tiêu dùng, UPF 30 là điển hình cho các sợi vải bảo vệ trong khi UPF 6 là điển hình cho các sợi dùng trong mùa hè.

Theo toán học, SPF (hoặc UPF) được tính từ các dữ liệu sau:

Trong đó E() là cường độ ánh sáng mặt trời, A() là quang phổ gây cháy da và MPF() là các yếu tố bảo vệ, tất cả đều quy về hàm của bước sóng ()

Công thức trên cho thấy SPF không chỉ đơn giản là nghịch đảo của chỉ số truyền qua ở vùng UVB. Vì nếu điều đó đúng thì khi thoa 2 lớp SPF 5 thì hiệu quả sẽ là 25. Tuy nhiên thực tế kết hợp luôn luôn là thấp hơn so với đơn lẻ.

Các hoạt chất được sử dụng trong kem chống nắng

– Các hợp chất hóa học hữu cơ có thể hấp thu tia cực tím

– Các hạt vô cơ phản chiếu, tán xạ và hấp thu tia cực tím như Titan dioxit, Kẽm oxit, hoặc kết hợp cả hai).

– Các hạt hữu cơ chủ yếu hấp thu ánh sáng như các hợp chất hữu cơ nhưng chứa nhiều hạt có thể phản xạ, phân tán một phần ánh sáng như các hạt vô cơ và hoạt động khác với các hợp chất hữu cơ. Vì hiệu quả giảm ảnh hưởng của tia UV phụ thuộc rất nhiều của kích thước hạt nên các nguyên vật liệu đều được làm đến cỡ hạt dưới 200nm. Các chế độ hoạt động của hệ thống lọc được điều chỉnh xuống còn khoảng 90% do sự hấp thu và 10% bằng cách phân tán ánh sáng.

Các thành phần chính trong kem chống nắng thường là các phân tử thơm liên kết với nhóm Carbonyl. Cấu trúc tổng quát này cho phép các phân tử hấp thu các tia cực tím có năng lượng cao và giải phóng ra các tia có năng lượng thấp hơn, do đó ngăn ngừa được các tia cực tím gây hại cho da. Vì vậy, khi tiếp xúc với tia UV, hầu hết các thành phần (ngoại trừ Avobenzone) không chịu thay đổi hóa học đáng kể, cho phép các thành phần giữ lại khả năng hấp thu của mình. Một chất ổn đinh hóa học được thêm vào các sản phẩm chứa Avobenzone để ổn định chất này như Bemotrizinol và Octocrylen. Hầu hết các hợp chất hữu cơ trong kem chống nắng phân hủy từ từ và giảm hiệu quả trong nhiều năm nếu bảo quản đúng cách.

Các hoạt chất chống nắng cũng được sử dụng cho các sản phẩm chăm sóc tóc như dầu gội đầu, kem xả và các sản phẩm tạo kiểu để bảo vệ sự thoái hóa protein và mất màu tóc. Hiện nay, benzophenone-4 và ethylhexyl methoxycinnamate là 2 hoạt chất được sử dụng nhiều nhất trong các sản phẩm chăm sóc tóc. Các hoạt chất chống nắng dùng cho da ít khi được sử dụng cho các sản phẩm tóc do kết cấu và trọng lượng của chúng.

Các hoạt chất chống nắng được FDA chấp thuận

Hoạt chất

Tên khácNồng độ tối đaNước chấp thuận

Kết quả nghiên cứu

p-Aminobenzoic acidPABA15%USA, AUSBảo vệ da chống lại các khối u ở chuột. Tuy nhiên, có nguy cơ gây sai lệch AND nên ít được sử dụng
PadimateOOD-PABA, octyldimethyl-PABA, -PABA8% (EU, USA, AUS); 10% (JP)EU, USA, AUS, JP
Phenylbenzimidazole sulfonic acidEnsulizole, Eusolex 232, PBSA, Parsol HS4% (US, AUS); 8% (EU); 3% (JP)EU, USA, AUS, JP
Cinoxate2-Ethoxyethyl p-methocinnamate3% (US); 6% (AUS)USA, AUS
DioxybenzoneBenzophenone-83%USA, AUS
OxybenzoneBenzophenone-3, Eusolex 4360, Escalol 5676% (US); 10% (AUS, EU); 5% (JP)EU, USA, AUS, JP
HomosalateHomomethyl salicylate, HMS10% (EU, JP); 15% (US, AUS)EU, USA, AUS, JP
Menthyl anthranilateMeradimate5%USA, AUS
OctocryleneEusolex OCR, 2-Cyano-3,3-diphenyl acrylic acid, 20ethylhexylester10%EU, USA, AUS, JPTăng ROS
Octyl methoxycinnamateOctinoxate, EMC, OMC, Ethylhexyl methoxycinnamate, Escalol 557, 2-Ethylhexyl-paramethoxycinnamate, Parsol MCX7.5% (US) 10% (EU, AUS) 20% (JP)EU, USA, AUS, JP
Octyl salicylateOctisalate, 2-Ethylhexyl salicylate, Escalol 587,5% (EU, USA, AUS) 10% (JP)EU, USA, AUS, JP
Sulisobenzone2-Hydroxy-4-Methoxybenzophenone-5-sulfonic acid, 3-Benzoyl-4-hydroxy-6-methoxybenzenesulfonic acid, Benzophenone-4, Escalol 5775% (EU) 10% (US, AUS, JP)EU, USA, AUS, JP
Trolamine salicylateTriethanolamine salicylate12%USA, AUS
Avobenzone1-(4-methoxyphenyl)-3-(4-tert-butyl
phenyl)propane-1,3-dione, Butyl methoxy dibenzoylmethane, BMDBM, Parsol 1789, Eusolex 9020
3% (US) 5% (EU, AUS)10% (JP)EU, USA, AUS, JP
EcamsuleMexoryl SX, Terephthalylidene Dicamphor Sulfonic Acid10%EU, AUSBảo vệ da chống lại các khối u ở chuột.
Titanium dioxideCI7789125% (Không giới hạn tại Nhật)EU, USA, AUS, JP
Kẽm oxit25% (US)

(AUS, Nhật: không giới hạn)

USA, AUS, JPBảo vệ da chống lại các khối u ở chuột.

Kẽm oxit không được chấp thuận tại Châu Âu vào năm 2009. Tuy nhiên, nó lại được chấp thuận và sử dụng rộng rãi như là một chất tạo màu và Hội đồng khoa học về an toàn tiêu dùng đã đưa ra ý kiến thuận lợi cho việc chấp thuận trong tương lai.

Một số thành phần khác được chấp thuận tại Châu Âu và một vài nơi trên thế giới mà không có trong danh sách của PDA:

Hoạt chất

Tên khácNồng độ tối đa

Quốc gia chấp thuận

4-Methylbenzylidene camphorEnzacamene, Parsol 5000, Eusolex 6300, MBC4%*EU, AUS
Tinosorb MBisoctrizole, Methylene Bis-Benzotriazolyl Tetramethylbutylphenol, MBBT10%*EU, AUS, JP
Tinosorb SBis-ethylhexyloxyphenol methoxyphenol triazine, Bemotrizinol, BEMT, anisotriazine10% (EU, AUS) 3% (JP)*EU, AUS, JP
Tinosorb A2BTris-Biphenyl Triazine10%EU
Neo Heliopan APBisdisulizole Disodium, Disodium phenyl dibenzimidazole tetrasulfonate, bisimidazylate, DPDT10%EU, AUS
Mexoryl XLDrometrizole Trisiloxane15%EU, AUS
Benzophenone-9Uvinul DS 49, CAS 3121-60-6, Sodium Dihydroxy Dimethoxy Disulfobenzophenone [68]10%JP
Uvinul T 150Octyl triazone, ethylhexyl triazone, EHT5% (EU, AUS) 3% (JP)*EU, AUS
Uvinul A PlusDiethylamino Hydroxybenzoyl Hexyl Benzoate10% (EU,JP)EU, JP
Uvasorb HEBIscotrizinol, Diethylhexyl butamido triazone, DBT10% (EU) 5% (JP)*EU, JP
Parsol SLXDimethico-diethylbenzalmalonate, Polysilicone-1510%EU, AUS, JP
AmiloxateIsopentyl-4-methoxycinnamate, Isoamyl p-Methoxycinnamate, IMC, Neo Heliopan E100010%*EU, AUS

Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy rằng sự bảo vệ tốt nhất đạt được khi chia nửa số SPF và thoa lại nhiêu đó thời gian sau khi tiếp xúc với ánh nắng . Ví dụ, nếu SPF là 30, nên thoa lại kem chống nắng sau 15 phút tiếp xúc. Hơn nữa, việc thoa lại chỉ cần thiết sau các hoạt động như bơi, đổ mồ hôi hay lau chùi.

Một số nghiên cứu gần đây hơn tại trường Đại học Califonia đã chỉ ra rằng nên thoa lại kem chống nnagsw trong vòng 2 giờ để duy trì hiệu quả chống nắng. Nếu không thoa lại thậm chí có thể gây tốn thương tế bào nhiều hơn vì sẽ giải phóng các gốc tự do từ các hoạt chất chống nắng và chúng sẽ hấp thu vào da.

Chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt

GIỚI THIỆU

Sử dụng hiệu quả và thích hợp chế độ chăm sóc da phù hợp là nguyên tắc để duy trì làn da khỏe mạnh. Chế độ chăm sóc là một phần quan trọng trong các bệnh da liễu, chăm sóc da không đúng cách có thể cản trở kết quả điều trị tích cực. Làm sạch là bước đầu tiên để kiểm soát các vấn đề da liễu và việc chọn lựa một sản phẩm làm sạch đúng đắn có thể tác động đáng kể lên thành công của điều trị.

Các chất làm sạch đầu tiên được sử dụng bởi người Babylon trong những năm 2200TCN. Sau đó người Ai Cập đã kết hợp dầu thực vật và động vật với muối baso để tạo ra các hợp chất giống như xà phòng. Các chất làm sạch sau đó được tạo ra có chứa muối của các acid béo thu được từ phản ứng của chất béo với dung dịch kiềm, gọi là phản ứng xà phòng hóa, đánh dấu sự bắt đầu của hệ thống làm sạch dựa trên xà phòng tạo bọt có sẵn hiện nay.

Các chất làm sạch không tạo bọt được phát triển vào thế kỷ thứ 2 dưới dạng kem dưỡng chống khô da và dạng sữa. Bác sĩ người Hy Lạp Galen được xem là cha đẻ của dạng kem dưỡng chống khô da vì ông đã kết hợp dầu oliu, sáp ong, nước và cánh hoa hồng. Nhiều công thức tiên tiến hơn cũng có thêm vào borac.

Có nhiều nhóm chất làm sạch khác nhau, tuy nhiên, bài viết này chỉ tập trung vào các chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt.

CÁC DẠNG CHẤT LÀM SẠCH KHÔNG TẠO BỌT VÀ ÍT TẠO BỌT

Nhiều người tiêu dùng mắc sai lầm khi nghĩ rằng việc tạo bọt đem đến hiệu quả làm sạch. Tuy nhiên, thực tế thì không phải như vậy, thậm chí ngay cả khi không xuất hiện bọt, việc làm sạch vẫn có thể xảy ra. Đây là tiền đề cơ bản để hình thành các chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt.

Có hai loại chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt chủ yếu là dung dịch nước hoặc công thức có thành phần nước, có thể cần hoặc không cần sử dụng nước để làm sạch, và loại thứ hai là chất làm sạch không có chứa nước. Phần lớn các chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt là công thức có chứa nước gồm các thành phần như: nước, chất diện hoạt, chất làm ẩm, chất ổn định, chất bảo quản, chất tạo mùi và chất màu. Hiệu quả của các công thức làm sạch có nước phụ thuộc vào ba thành phần chủ yếu là nước, chất diện hoạt và chất giữ ẩm.

                                                       Bảng 1. Các dạng chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt

Chất diện hoạt

Thành phần quan trọng nhất trong phần lớn các hệ thống làm sạch là chất diện hoạt. Chất diện hoạt là chất hóa học làm ổn định hỗn hợp dầu và nước bằng cách giảm sức cưng bề mặt ở mặt phân cách giữa các phân tử dầu và nước, tăng sự hình thành bọt và ổn định tính keo của nó. Chất diện hoạt thể hiện hai chức năng trong việc làm sạch. Thứ nhất là chúng ổn định công thức làm sạch bằng cách cho phép pha dầu và pha nước cùng tồn tại trong một hệ thống ổn định. Khi không có chất diện hoạt, sẽ không thể tạo ra một pha đồng nhất trong công thức. Chức năng thứ hai là chức năng quan trọng nhất, chất diện hoạt là yêu cầu tất yếu cho việc làm sạch. Chất diện hoạt có thể được phân thành 5 nhóm: anionic, amphoteric (zwitteronic), cationic, non-ionic và chất diện hoạt polyme. Các anionic đặc trưng bởi khả năng làm sạch và tạo bọt tốt nhưng có thể gây kích ứng da quá mức. Kết quả là các anionic được kết hợp với các chất diện hoạt dịu nhẹ hoặc các chất cần thiết khác. Các non-ionic và các polyme có khuynh hướng là các chất diện hoạt dịu nhẹ và được dùng trong các hệ thống làm sạch dịu nhẹ. Các cationic truyền thống có thể gây kích ứng nhưng các nhóm mới đã được biết đến, là đối thủ cạnh tranh của các non-ionic. Nhóm cuối cùng là các amphoteric cũng có tính dịu nhẹ.

Hơn 40 năm qua, các chất diện hoạt hoạt động dịu nhẹ đang được phát triển, do đó một số lượng lớn các chất diện hoạt non-ionic là thành phần cơ bản trong những nhóm công thức tạo bọt ít, các công thức làm sạch giảm kích ứng và có thể được kết hợp với các nhóm polyme và amphoteric. Ví dụ các chất diện hoạt dịu nhẹ và các chất diện hoạt ít gây kích ứng bao gồm các sulfoacetate, acyl sarcosinate, amphoproprionate, alkanolamide, alkylglucosides và chất diện hoạt dịu nhẹ gốc cocamidopropyl betaine.

Sản xuất chất làm sạch ít bọt

Những hạn chế chính của hầu hết các hệ thống chất diện hoạt tổng hợp dịu nhẹ là ít tạo bạo. Nhìn chung, các chất diện hoạt có mạch cacbon càng dài thì các phân tử càng ít gây kích ứng. Tuy nhiên, tính dịu nhẹ này thường lấy đi hiệu quả làm sạch và tạo bọt. Thực tế, nhiều chất làm sạch hiện đại bổ sung thêm vào công thức các chất tăng tạo bọt để tăng cường sự hiện diện của bọt. Những thành phần thêm vào này không đòi hỏi khả năng làm sạch, không có thuộc tính làm sạch. Sự cân bằng giữa tính dịu nhẹ và tạo bọt được yêu cầu trong các công thức.

Tính dịu nhẹ

Khả năng kích ứng có thể được giảm bằng cách sử dụng các chất diện hoạt phù hợp. Ví dụ, sodium lauryl sulfate (SLS) là một chất diện hoạt anionic với chỉ số kích ứng cao cho thấy có thể giảm kích ứng khi kết hợp bới sodium laureth sulfate (SLES). Sự cân bằng lượng chất diện hoạt trong công thức đảm bảo hiệu quả làm sạch trong khi không có ảnh hưởng có hại cho hàng rào lipid bảo vệ của da và các protein là điều quan trọng.

Các thành phần khác có thể được đưa vào công thức làm sạch để giảm nhẹ những ảnh hưởng có hại. Một số các chất làm sạch dịu nhẹ chứa chất giữ ẩm như glycerin giúp giữ nước cho da. Các chất giữ ẩm khác như butylene glycol hay propylene glycol đã được sử dụng nhưng ít ưa chuộng hơn glycerin. Acid hyaluronic có khả năng kết hợp nhiều lần trong nước, rất đắt và hiếm khi được sử dụng.

Các chất giữ ẩm, các thành phần xây dựng hàng rào bảo vệ da khác cũng có thể được sử dụng. Ví dụ các ceramide và chiết xuất thực vật với các chất chống oxi hóa gián tiếp, các chất chống kích ứng có thể được sử dụng. Tuy nhiên vấn đề là phải đảm bảo những thành phần này phân phối lên da và có thể được rửa sạch. Dùng hệ thống phóng thích kéo dài hay phóng thích có kiểm soát có thể gia tăng sự phân phối các thành phần. Một ví dụ của hệ thống phân phối có kiểm soát được dùng trong hệ thống làm sạch là việc dùng nhũ tương có nhiều túi nhỏ. Nhũ tương này chứa các hạt đa lớp cho phép phóng thích kéo dài các hợp chất như ceramide, glycerin và acid hyaluronic.

Tính dịu nhẹ của chất làm sạch phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là việc chọn lựa các thành phần trong công thức và pH của sản phẩm. Hai nhóm thành phần gây kích ứng đáng kể nhất dùng trong công thức là các chất tạo mùi và chất bảo quản. Thường kết hợp các chất tạo mùi và nồng độ cao của các chất diện hoạt để giảm chỉ số kích ứng. Do các tác động này nên các sản phẩm làm sạch dịu nhẹ thường không có chất tạo mùi, tuy nhiên, chất bảo quản vẫn là một phần thiết yếu của công thức để đảm bảo các sản phẩm không bị nhiễm khuẩn.

Chất làm sạch không chứa nước

Các cách thức làm sạch da khác không liên quan đến các chất diện hoạt truyền thống là việc sử dụng các dung môi để hòa tan dầu và chất nhờn. Những chất làm sạch da mặt không chứa nước thường là cồn, đặc biệt chứa isopropyl alcohol pha loãng và một lượng nhỏ chất diện hoạt. Chất nhờn tan trong cồn và các dung môi có glycol. Những chất làm sạch này tiện lợi để sử dụng mà không cần nước và có hiệu quả trên những bệnh nhân có da nhiều dầu, tuy nhiên, việc sử dụng lâu có thể gây hại đến hàng rào bảo vệ của da.

Các hệ thống làm sạch thay thế khác gồm có hệ thống hai pha, pha dầu và pha nước không được hỗn hòa trong một công thức và vẫn là hai lớp riêng biệt. Những hệ thống này được trộn lại bằng cách lắc đều trước khi sử dụng. Chúng có ưu điểm là nồng độ chất diện hoạt thấp nhưng thường không được người tiêu dùng ưa chuộng.

Chất làm sạch không chứa lipid

Các nhóm chất làm sạch mới sử dụng cho da thường và da dầu được nhắc đến là những chất làm sạch không chứa lipid. Các lipid được định nghĩa rộng là chất béo hòa tan, các phân tử có nguồn gốc từ thiên nhiên như các chất béo, dầu, sáp, sterol, monoglyceride và phospholipid. Các chất làm sạch không có lipid có ưu điểm là không gây tích tụ lại bất kỳ thành phần lipid nào trên bề mặt da. Chúng cân bằng khả năng làm sạch và giữ ẩm cho da. Đối với các chất làm sạch không chứa lipid, việc làm ẩm được thực hiện bằng cách thay thế chất nhờn bằng các dầu tổng hợp cùng với các chất giữ ẩm thêm vào, như glycerin. Mặc dù tốt cho da thường và da dầu, nhưng chất tẩy rửa dạng này không phù hợp với da khô.

Bảng 2. Các loại chất làm sạch chính

CƠ CHẾ LÀM SẠCH

Đối với các chất làm sạch không tạo bọt, đặc biệt là kem dưỡng chống khô da, phương thức hoạt động chính tùy thuộc vào khả năng trói buộc chất nhờn, chất bẩn, vi khuẩn và các tế bào da chết. Công thức kem dưỡng chống khô da là nhũ tương nước trong dầu (W/O) với pha ngoại là các thành phần dầu hoặc thân dầu và pha nước được phân chia thành các giọt nhỏ trong pha nội. Do pha ngoại là pha dầu nên các kem dưỡng chống khô da trói buộc tốt các chất nhờn, chất bẩn và mỹ phẩm với việc lại bỏ dễ dàng khi lau.

Các dạng lotion làm sáng da hoặc dạng sữa cũng có nguyên lý tương tự, mặc dù chúng khác với các kem dưỡng chống khô da, bởi vì chúng là các nhũ tương dầu trong nước (O/W). Nhờ vào việc sử dụng lên bề mặt da, các giọt pha dầu tìm ra các chất nhờn trên bề mặt của da, lôi kéo chúng là dễ dàng loại bỏ khi lau nhẹ hoặc rửa với nước. Các dạng lotion làm sáng da này cũng khác các kem dưỡng chống khô da do có chứa một số chất diện hoạt cổ điển. Các chất diện hoạt được dùng để duy trì nhũ tương ổn định với pha nội dầu và pha ngoại nước nhưng không có bất kỳ khả năng tạo bọt nào. Những chất làm sạch này hạn chế khả năng tẩy rửa và không hiệu quả cho da dầu nhưng hoạt động tốt đối với da khô đến da bình thường.

PHÁ HỦY HÀNG RÀO BẢO VỆ

Ảnh hưởng trên da của chất diện hoạt phụ thuộc vào loại, thời gian tiếp xúc và nồng độ. Nhiều chất diện hoạt khác nhau tác động lên lớp sừng hoặc lớp ngoài của biểu bì, gây ra khô da, phá hủy chức năng hàng rào bảo vệ của da, gây kích ứng, ngứa và đỏ. Các chất diện hoạt tương tác với các thành phần khác nhau của lớp sừng, gồm có các protein và lipid. Tương tác xảy ra với các tế bào sừng hoặc phức hợp protein làm từ các sợi keratin cũng như các lipid. Đối với tế bào sừng, chất diện hoạt trói buộc lại những protein này cho phép chúng phồng lên và làm cho những thành phần khác trong công thức có thể thâm nhập vào các lớp sâu hơn của da nơi mà chúng có thể gây ngứa và kích ứng. Các đặc tính kích ứng của các chất diện hoạt đã được chứng minh là có liên quan đến cơ chế mà chất diện hoạt tương tác với lớp sừng.

Sự tương tác của các chất diện hoạt với các lipid trong lớp sừng vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Các chất diện hoạt có thể nằm giữa các lớp lipid kép gây tăng tính thấm và thậm chí gây phá vỡ lớp kép. Các chất diện hoạt cũng có thể gây phá hủy cấu trúc lipid của chính nó. Các chất diện hoạt làm giảm số lượng lipid trong da và phá hủy cấu trúc hàng rào da bằng cách loại bỏ những lipid này bằng các chất làm sạch được sử dụng. Bản thân chất diện hoạt thường không gây kích ứng, ngoại trừ các thành phần khác chứa trong công thức như các chất tạo mùi và các chất bảo quản. Chất diện hoạt tác động lên chức năng hàng rào bảo vệ mở ra đường đi cho tác động phá hủy của những thành phần khác. Có thể thấy được việc gây hư hại hàng rào bảo vệ cần được tránh bởi vì hàng rào bảo vệ bị hư hại có liên quan tới những bệnh về da bao gồm bệnh vảy nến, viêm da dị ứng và các bệnh vẩy cá khác.

KẾT LUẬN

Ưu điểm của chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt là tính dịu nhẹ. Những bất lợi là khả năng ít tạo bọt nhưng điều này thường không được người tiêu dùng chấp nhận bởi vì họ cho rằng nó không hiệu quả để làm sạch. Các chất làm sạch để lại cảm giác “kin kít” trên bề mặt da và tạo ra nhiều bọt thường không phù hợp với những người có da nhạy cảm. Các chất làm sạch không tạo bọt và ít tạo bọt đạt được cân bằng giữa khả năng làm sạch da và khả năng thanh thải.

Tác động của các thành phần kỵ nước đối với conditioner polymer dạng cation

Cationic cellulosic polymer thường được kết hợp với surfactan trong công thức bào chế dầu gội đầu, sữa tắm, với vai trò là một conditioner và có tác dụng phân bố. Trong quá trình pha loãng, các thành phần polymer và surfactan diễn ra một loạt các biến đổi cấu trúc như sau: từ dạng một mạng lưới dầy đặc hình thành nên các tiểu phân kết tụ hình cầu ở các lớp khác nhau, tạo nên cấu trúc michele. Polymer dạng cation ảnh hưởng đến tương tác bề mặt của polymer và surfactan. Sự bổ sung các phân tử kỵ nước vào hệ polymer làm thay đổi nhiều đặc tính lắng đọng và condition của polymer. Chỉ một lượng nhỏ các thành phần kỵ nước vào hệ polymer cũng làm thay đổi tương tác bề mặt, ảnh hưởng đến khả năng tạo giọt và lắng đọng của cả hệ.

Polyquternium-10

http://patentimages.storage.googleapis.com/US20030228272A1/US20030228272A1-20031211-C00002.png

Polyquaternium-10 (PQ-10) là tên INCI của thành phần cationic (trimethyl

ammonium) hydroxylethylcellulose (HEC ) thường được sử dụng trong hệ polymer của dầu gội để tạo cảm giác mềm mịn và tạo nếp cho tóc. Thành phần này được ứng dụng phổ biến trong bào chế các sản phẩm vệ sinh cơ thể, tạo cảm giác dễ chịu sau khi xã với nước và cải thiện tính phân bố đồng nhất của các thành phần thân dầu trong hệ. Tên gọi thương mại của Polyquaternium-10 (PQ-10) thường kèm theo khối lượng phân tử và mật độ điện tích.

Trong dầu gội đầu và kem tẩy rửa, polymer dạng cation và chất diện hoạt cùng tồn tại trong một pha duy nhất. Trong quá trình tẩy rữa và làm khô, cation polymer HEC hình thành nên hệ polymer từ phức hợp với chất diện hoạt, được tách ra từ dung dịch.

Sự tách pha (hay sự tạo giọt) là một hiện tượng phổ biển được biết đến với tên gọi “Lochhead effect”. Sự tạo giọt hình thành nên thể chất dạng gel có chứa hàm lượng cao polymer cation sẽ tích tụ trên những bề mặt tích điện âm, hình thành nên một lớp film mỏng. Sự lắng đọng phụ thuộc vào trọng lượng phân tử của polymer cũng như mật độ điện tích dương trong hệ. Nghiên cứu của Zhou khảo sát ảnh hưởng của trọng lượng phân tử và chiều dài của ethylen oxide đến cationic hydroxyethyl cellulose ở những nồng độ khác nhau của sodium dodecyl sulfate (SDS). Những thay đổi cần quan sát bao gồm: sự ngưng tụ, kết tụ các cấu trúc hình cầu, tương tác liên phân tử giữa các michele.

Zhou nhận thấy ở nồng độ chất diện hoạt thấp, polymer tan với bán kính thủy động học 100 nm gần đường giới hạn pha. Khi nồng độ chất diện hoạt gia tăng, bán kính thủy động học cũng tăng, sự tách pha xảy ra. Khi dần tiến đến ngưỡng giới hạn trên, kích thước phân tử gia tăng. Sự bổ sung chất diện hoạt trên nồng độ giới hạn, dẫn đến sự tái hòa tan các phân tử polymer. Mối quan hệ phức tạp giữa các cấu trúc micro với polymer, chất diện hoạt dự đoán những chức năng bổ sung và tác động của việc bổ sung các chuỗi kỵ nước vào khung polymer.

Kết quả và thảo luận

Tác động của trọng lượng phân tử và mật độ điện tích của cation polymer HEC trên hệ silicon (0.5 µ dimethicone) kết tụ từ một hệ bào chế dầu gội đầu đơn giản gồm 15.5% SLES-2 2.6% DSCADA ,0.25 % polymer,1 % silicone. Cả 2 chỉ số đều ảnh hưởng đến tính chất của polymer trong hệ kết tụ silicon.

Nguyên liệu thân dầu sử dụng trong mỹ phẩm

III. HYDROCARBON

Hydrocarbon sử dụng làm nguyên liệu sản xuất mỹ phẩm thường ở dạng bão hòa và chuỗi dài hơn 15C, gồm: parafin lỏng, parafin rắn, petrolatum, squalan. Trong đó petrolatum có nguồn gốc từ quá trình hóa dầu, còn squalan là sản phẩm hydro hóa của  squalene (từ động vật và thực vật).

  1. Parafin lỏng

Parafin lỏng được sản xuất bằng cách loại bỏ parafin rắn từ phân đoạn chưng cất dầu khí ở nhiệt độ trên 300 oC. Chúng là hỗn hợp các hydrocarbon bão hòa từ 15-30C, dạng lỏng ở nhiệt độ phòng, không màu, không mùi, trơ và dễ dàng nhũ hóa.

Parafin lỏng được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc da như kem, lotion sữa nhằm tạo cảm giác dễ chịu trên da và kiểm soát mất hơi ẩm qua làn da.

  1. Parafin

Parafin là hỗn hợp các hydrocarbon dạng rắn, đa phần mạch thẳng (2-3% phân nhánh), từ 16-40C, phổ biến nhất 20-30C. Điểm nóng chảy 50-70 oC, thu được bằng phương pháp chưng cất chân không hoặc chiết dung môi phân đoạn cuối cùng của quá trình chưng cất dầu khí.

Tương tự như parafin lỏng, parafin rắn là chất trơn không màu, không mùi. Chúng được sử dụng rộng rãi trong các loại kem và son môi.

  1. Petrolatum (vaselin)

Petrolatum là dạng hydrocarbon nhẹ thu được bằng cách loại bỏ phần sáp bằng phương pháp chiết dung môi trong phần còn lại sau khi chưng cất chân không dầu khí.

Thành phần chính là các hydrocarbon 24-34C dạng vô định hình. Petrolatum có cấu tạo phức tạp, chúng không phải là sự kết hợp đơn thuần giữa parafin lỏng và parafin. Nghiên cứu chỉ ra rằng chúng giống hợp chất keo, với pha ngoại là parafin rắn và pha nội là parafin lỏng.

Trương tự như parafin, petrolatum cũng không mùi, trơ và có độ kết dính cao. Chúng thường được dùng trong thành phần của kem và son môi.

  1. Ceresin

Ceresin là sản phẩm tinh chế của ozocerite, chủ yếu là các carbohydrat mạch thẳng từ 29-35C, đôi khi có thêm isoparafin. Trọng lượng phân tử cao hơn parafin, độ nóng chảy 61-95 oC, chúng được sử dụng như một chất làm cứng trong son môi và mỹ phẩm tạo nếp tóc.

  1. Sáp vi tinh thể

Sáp vi tinh thể là chất rắn thu được bằng cách chiết xuất dầu từ petrolatum. Chúng là hỗn hợp có thành phần phức tạp, chủ yếu là isoparaffin 31-70C. Có cấu trúc vi tinh thể, độ kết dính cao, giãn nở tốt và có nhiệt độ nóng chảy cao 60-85 oC. Khi phối hợp với các thành phần sáp khác, giúp  ngăn ngừa sự hình thành tinh thể, hiệu quả khi dùng trong son môi và kem.

  1. Squalan

Squalan tìm thấy số lượng lớn trong các loài cá mập vùng nước sâu, dầu ô liu… thể chất lỏng ở nhiệt độ phòng. Chúng là sản phẩm hydro hóa của squalen.

Squalan rất an toàn, trơ về mặt hóa học, được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm chăm sóc da như kem và lotion sữa…

IV. CÁC ACID BÉO CAO PHÂN TỬ

Acid béo là các hợp chất hóa học với công thức chung là RCOOH với R là các gốc alkyl bão hòa hoặc alkenyl. Chúng là thành phần trong ester của dầu mỡ tự nhiên. Acid béo trong dầu mỡ động thực vật có số phân tử carbon chẵn và thường mạch thẳng. Tuy nhiên, trong công nghệ hóa tổng hợp, người ta còn tạo nên các mạch nhánh nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng trong sản xuất mỹ phẩm. Ngoài ra, chúng còn kết hợp với KOH, triethanolamin, nhũ hóa để sản xuất xà phòng.

  1. Acid lauric

Acid lauric thu được bằng cách chưng cất hỗn hợp acid béo dầu dừa và dầu cọ đã được xà phòng hóa.

Xà phòng được sản xuất từ acid lauric bằng cách phồi hợp với natri hydroxyd, trimethanolamin có khả năng tan tốt trong nước, phù hợp sản xuất các sản phẩm “làm sạch” dùng trong mỹ phẩm.

  1. Acid Myristic

Acid myristic được sản xuất bằng cách chưng cất hỗn hợp acid béo thu được sau quá trình xà phòng hóa dầu cọ. Acid myristic không được sử dụng trực tiếp trong sản xuất mỹ phẩm, nhưng ở dạng xà phòng, chúng có khả năng tạo bọt và làm sạch tốt. Do đó được sử dụng trong các sản phẩm làm sạch da.

  1. Acid Palmitic

Acid palmitic thu được bằng cách xà phòng hóa dầu cọ. Chúng được dùng trong thành phần pha dầu trong công thức sản xuất mỹ phẩm.

  1. Acid Stearic

Acid stearic có thể được sản xuất bằng 2 phương pháp:

PP1: Loại bỏ các acid lỏng (chủ yếu acid oleic) trong nhóm acid béo thu được từ quá trình xà phòng hóa mỡ bò. Acid stearic thu được theo phương pháp này thường lẫn nhiều acid palmitic.

PP2: Chưng cất acid béo bằng việc xà phòng hóa dầu đậu nành hoặc dầu hạt bông. Phương pháp này tạo ra acid stearic có độ tinh khiết, nhiệt độ nóng chảy cao.

Acid stearic được sử dụng để duy trì tính ổn định và độ cứng của kem, ngoài ra chúng còn được sử dụng trong lotion và son môi.

  1. Acid Isostearic

Các acid béo bão hòa C18 với cấu trúc phân nhánh được gọi là acid isostearic. Chúng là sản phẩm của quá trình hydro hóa acid béo không bão hòa – sản phẩm của quá trình tổng hợp acid oleic từ các dimer. Nó cũng có thể được sản xuất bằng phương pháp Guerbet.

Acid isostearic tồn tại ở dạng lỏng, có nhiệt độ nóng chảy thấp thấp hơn các acid béo bão hòa khác như acid stearic, acid palmitic và ít bị oxy hóa hơn acid béo không bão hòa khác như acid oleic.

Search

+